
Việt Nam - đất nước hình chữ S bên bờ Thái Bình Dương, Nơi có vị trí địa -
chính trị quan trọng với bờ biển dài, các tuyến giao thông hàng hải chiến lược và
nguồn tài nguyên thiên nhiên lớn. Suốt hàng ngàn năm lịch sử, các Vua Hùng khai sơn
phá thạch, lập nên quốc gia Văn Lang từ núi Nghĩa Lĩnh hùng vĩ. Từ đó, dù gặp muôn
vàn sóng gió, dù bao lần giặc ngoại xâm xâm chiếm nước ta, đô hộ nhân dân ta, nhưng
với lòng yêu nước nồng nàn, nhân dân ta đã đứng lên để giành lại độc lập, tự do.
Từ giữa thế kỉ XIX, các nước đế quốc tư bản chủ nghĩa vừa tăng cường bóc lột
nhân dân lao động trong nước, vừa xâm lược và áp bức các dân tộc thuộc địa khác
trên thế giới. Năm 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tại bán đảo Sơn Trà
(Đà Nẵng) xâm chiếm nước ta. Sau khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, chúng đã
từng bước thiết lập bộ máy thống trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành
một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô. Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã
làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi.
Về chính trị, thực dân Pháp tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của chính
quyền phong kiến nhà Nguyễn. Chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động
yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do bị cấm. Chúng chia rẽ ba nước Đông
Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và thực hiện ở mỗi
kỳ một chế độ cai trị riêng.
Về kinh tế, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách
bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng
nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ
thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa.
Về văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, bưng bít, ngăn cản
ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc
lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu.
Cũng như bao lần đất nước bị xâm lăng trong lịch sử, nhân ta lại đứng lên để
giành lại non sông gấm vóc, với khát vọng độc lập - tự do. Trước sự xâm lược của
thực dân Pháp, các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh của Nhân dân ta diễn
ra liên tục và mạnh mẽ. Tuy nhiên, do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và thiếu
lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Phong trào yêu nước
theo ý thức hệ phong kiến như phong trào Cần Vương đã chấm dứt với sự thất bại của
cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896); phong trào nông
dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi.
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu,
Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên
Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại,... Cách mạng Việt Nam chìm trong
cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước thì
ngày 5/6/1911, từ bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên Nguyễn Tất Thành với cái
tên Văn Ba đã ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Với khát vọng cháy
bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, Nguyễn Tất Thành đã bất chấp mọi nguy
hiểm, gian khổ, đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã rút ra chân
lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công
nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.
Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6 năm
1919, với tên mới là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người yêu nước Việt
Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây Bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đòi
Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân
tộc Việt Nam.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những
Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân
đạo và cũng chính từ đây đã giải đáp cho Người con đường đấu tranh giành độc lập tự
do thực sự cho dân tộc, cho đồng bào mình - Con đường cách mạng vô sản.
Ngày 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp
và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người
Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Từ năm 1921-1930, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng
sản Pháp, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá
chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.
Tháng 6/1925, tại Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc thành ập ra Hội
Việt Nam cách mạng Thanh niên, lựa chọn và tập hợp những thanh - thiếu niên yêu
nước, tổ chức vad đào tạo cán bộ cốt cán, tiếp tục chuẩn bị về mặt tư tưởng, chính trị
và tổ chức cho việc thành lập chính đảng vô sản tại Việt Nam.
Những hạt giống đỏ được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giáo dục, rèn luyện sau đó
đã trở về nước để truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin và phát triển phong trào cách
mạng. Sự kết hợp giữa phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam dưới
ánh sáng của chủ nghĩa Marx - Lenin đã dẫn đến kết quả tất yếu là sự ra đời của các tổ
chức cộng sản. - - - -
Tháng 3/1929, tại ngôi nhà số 5D phố Hàm Long (Hà Nội), chi bộ cộng sản
đầu tiên tại Việt Nam ra đời.
Giữa tháng 6/1929, Kỳ Bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã
thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng tại Hà Nội.
Tháng 11/1929, các đồng chí Tổng bộ và Kỳ Bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam
cách mạng Thanh niên quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng.
Tháng 01/1930, những đại biểu ưu tú của Tân Việt cách mạng Đảng đã họp và
thành lập Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ.
Tuy nhiên ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân
tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách
nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia
rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam.
Để chấm dứt tình trạng một lúc tồn tại ba tổ chức cộng sản tại Việt Nam,
Nguyễn Ái Quốc với vai trò là đặc phái viên của Quốc tế Cộng sản đã triệu tập và chủ
trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam từ
ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, ở bán đảo Cửu Long thuộc Hồng Kông (Trung
Quốc). Hội nghị đã nhất trí thống nhất các tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy
tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết nghị lấy
ngày 03 tháng 02 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản
Việt Nam. Ngày 03/02/1930, là một bước ngoặt vô cùng quan trọng của lịch sử cách
mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về
đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã làm nên thắng lợi của cuộc Cách
mạng tháng Tám năm (1945), phá tan đi sự cai trị của phát xít Nhật Bản, sự thống trị
của thực dân Pháp sau gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến đã tồn tại hơn
một nghìn năm, mở kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân
ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Ngày
2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên
ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân Pháp,
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với quyết tâm
“Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không
chịu làm nô lệ”. Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến
tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp
định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Đông Dương năm 1954.
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, nhân
dân ta bắt tay vào xây dựng, khôi phục kinh tế - văn hóa, xây dựng chủ nghĩa xã hội; ở
miền Nam, đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ, hất chân thực dân Pháp, biến
miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của chúng. Bằng đường lối
lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất,
bất chấp mọi gian khổ hy sinh của Nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các
nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã lãnh
đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ,
giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, kết
thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống
nhất đất nước.
Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm,
Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước,
mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nước ta đã
trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền
chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều
trọng trách quốc tế. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ
vững, lợi ích quốc gia dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế nước ta đã tăng 96
lần so với năm 1986, lọt Top 40 nền kinh tế hàng đầu. Từ một nước bị bao vây, cô lập,
Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia vùng lãnh thổ trên thế giới,
có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với hơn 30 nước, trong đó có toàn
bộ các thành viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các nền kinh tế
nhóm G7. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh,
hoàn thành về đích sớm các mục tiêu Thiên niên kỷ. Tiềm lực chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, khoa học – công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng nâng cao; tham
gia đóng góp tích cực duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực và thế giới. Từ Đại hội
lần thứ I (1935) Đảng ta có khoảng 500 đảng viên đến Đại hội XIV (2026) Đảng ta có
khoảng hơn 5,6 triệu đảng viên.
Những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử trong gần 40 năm thực hiện công
cuộc đổi mới đất nước do Đảng lãnh đạo, là kết quả của một quá trình nỗ lực, phấn
đấu liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của Đảng, phù hợp với thời đại và thực tiễn Việt
Nam, khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của
Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
